Thách thức tiếng Quảng Nôm

Tiếng Nghệ tưởng đã khó nhưng hóa ra tiếng Quảng còn kinh khủng hơn 🙂 Học nói đúng chuẩn ngữ điệu Quảng Nôm cũng đau hết cả mồm!

– Khi thấy chiếc máy bay, họ sẽ kêu: chiếc má ba
– Khi gặp má và ba, họ kêu: móa boa
– Mi núa cứa chi rứa mi?
– Chừ mi tính reng?
– Lồm đem không đủ tranh thủ lồm ngà
– Núa bóa xồm bóa lốp
– Máy rứa?
– Con cua có máy cứa coàn?
– Bỏa núa nghe mắt mệch
– Náng chi mòa hén náng kinh
– Đi mô rứa?
– Bòa ngụa mi dề kìa
– Choa mi
– Chi kinh rứa?
– Cứa thèng hén hạc giủa kinh
– Hén thi đạo Đựa hạc Đòa Nẽng
– Hén chạ xe như eng cướp
– Nhòa có đốm tiệc
– Cứa thèng nứ hén thiệt tình lám
– Đi đổ xeng đi chứ chiều hén lên gióa chừ…
– Đạo phụng
– Soảng hòn
– Méc kinh rứa?
– Eng soáng
– Thổm hụa của nhân lụa
– Cứa bót đánh reng
– Mùa mưa bổ
– Bổ cấp mười hưa
– Dẹt đồ
– Gụa điện thụa
– Phang boa bổ tốp không bèng ngữ phốp Việt Nôm
– Mọt, hưa, boa, bón, nam, xá, bả, tốm, chín, mười

Nguồn: Nhặt từ Facebook

Từ điển tiếng Nghệ

O mô muốn mần du xứ Nghệ thì phải hoọc 🙂

Con trâu thì gọi “con tru”
Con dâu thì gọi “con du” trong nhà
“Mấn” là “váy”, “ngái” là “xa”
“Đi mô?” để hỏi ai là “đi đâu? ”

“Nác su” ý nói “nước sâu”
“Trấy bù” để gọi “quả bầu” đấy nha
“Gác bếp” thì gọi là “tra”
“Lông cơn” thực chất đó là “trồng cây”

“Ra sân” thì nói “ra cươi”
“Đi nhởi” ý nói “đi chơi” ấy mà
“Chúng tao” thì nói là “choa”
“Các bạn”, thân mật gọi là “bọn bay”

“Tê” là “kia”, “ni” là “này”
“Mi” “mần” ý nói là “mày” “làm” thôi
“Chộ” là “thấy”, “nhác” là “lười”
“Mắm tôm” cứ gọi “ruốc bôi” đúng liền

“Đọi” là “bát”, ”nôốc” là “thuyền”
“Khủy chân” đích thị có tên “lặc lè”
“Đàng” là “đường”, “đấy” là “tè”
“Thế thôi” thì nói “rứa hè” là xong

“Rừng” là “rú”,“rào” là “sông”
“Ngá khu” tức thị “ngứa mông” thật rồi
“Mơ” là “mớ”, “thúi” là “hôi”
“Nỏ nhởi” ý nói “không chơi” đó mà

“Tê” là “kia, “tề” là “kìa”
“Cái môi” tên gọi “cái thìa” đó em
“Đánh nhau” – “đập chắc” nhớ liền
“Ra răng” là muốn hỏi em “thế nào”

“Ả” là “chị”, “tau” là “tao”
“Rứa” là “thế”, “răng” là “sao” đó mà
“Bổ” là “ngã”, “mả” là “mồ”
“Lọi cẳng” để nói đó là “duỗi chân”

Vải “đen” ắt hẳn vải “thâm”
”Trụt quỳn” ý nói “tụt quần” thế thôi
“Dốc” là “trôộc”, “đôộng” là “đồi”
“Mui” là để chỉ cái “môi” trước mồm

“Đầu” là “trôốc”, “hun” là “hôn”
“Ló” chưa hết là “Lúa” còn đấy em
“Ngượng” là “rầy” “thích” là “sèm”
Ai hỏi đến “lả” thì châm “lửa” liền

“Nỏ” là “không” nhé đừng quên
“Lá trù” chính xác là tên “lá trầu”
“Mắc” là “bận”, “mô” là “đâu”
“Ăn nể” , “ăn vã” như nhau cả mà

Có người gọi “bọ” là “cha”
“Nương” là “vườn”, “rẫy” gọi là “nương” thôi
“Bù rợ” “bí đỏ” đúng rồi
“Nước chè” quê bạn, quê tôi “nác chè”

“Nướng” là phải “náng” đó nghe
Gọi mang lọ “mói” thì bê “muối” liền
Trốc cúi” là “đầu gối” chân
Gọi “đài” múc nước phải cầm “gầu” ngay

“Chủi” là cái “chổi” đây này
Nói “rờ” thì cứ đưa tay mà “sờ”
“Lúc này” tạm nói là “dừ”
“Luộc kỹ gốc” nhé, “Loọc nhừ côộc” nha,

“Con ga” để chỉ “con gà”
“Con bê” choa nói đó là “con me”
“Con suối” cứ gọi là “khe”
”Châu chấu” ngoài đó, ở quê “cào cào”

“Hồ” nước được gọi là “bàu”
“Cá quả” cứ gọi “cá tràu” không sai
“Con người” thì nói “Con ngài”
”Cù cu” tên gọi của loài “bồ câu”

“tối” nói “túi”, “túi” nói “bâu”
“Con sâu” có chỗ gọi “trâu” thật mà
“Hổ bắt” thì nói “khái tha”
“Muỗi”, “giòi” thì gọi đó là “mọi”, “troi”

“Con ruồi” thì nói “Con ròi”
Bắt “tôi” “Nhúng” đít thì “tui” “trụng” quần
“Con giun” phải nói “Con trùn”
“Với chắc” có nghĩa là cùng “với nhau”

“Lộ mô” có nghĩa “chỗ nào”
Nói “vo trôốc” là “gội đầu” đó em
“Gạo” thì gọi “gấu” đừng quên
Ai nói đến “trự” nhớ liền “chữ” ngay

”Chạc” là để chỉ cái “dây”
Nói đi “đâm” gạo hiểu ngay “giã” rồi
Cả anh, em mẹ tới chơi
Đều chào là “cụ” thế thôi em ờ

“Sạu” thì phải hiểu là “ngô”
”O” là bác gái và “cô” đó mà
“Mẹ chồng” vẫn gọi “mụ gia”
“Ràn tru” phải hiểu đó là “chuồng trâu”

“Ròi bu” ý nói “ruồi bâu”
Hỏi nơi “rửa bát” là đâu “lộ chồ”
Gọi “vợ” là “gấy”nhớ cho
Nói “Nhôông” ắt hẳn chính là “chồng” thôi

“Dao khoắm” là “rạ” đúng rồi
Bảo đi lấy “toóc” thì lôi “rạ” về
“Ruộng” là gọi “roọng” đó nghe
“Anh nha” cứ nói “eng hè” là xong

“Suôn” là “thẳng”, “ngoẹo” là “cong”
“Nỏ mần răng cả” là “không việc gì”
“Gõ đầu” là “trọi trốc” mi
“Kệ tau” ý nói làm gì “mặc tôi”

“Trúp vả” để chỉ cái “đùi”
“Ả nậy” – “chị lớn” biết rồi chứ em,
“Ngong” là “ nhìn”, “coi” là “xem”
“Mệ va” – “chị ấy” mong em chớ cười

“Lớn” thì nói “nậy” thế thôi
“Lõi” ngô, lõi mít nói “cồi” đừng lo
“Cây cọ” choa nói “cơn tro”
Gọi “tắn”, gọi “tít” “rắn” bò “rết” ra

“Mạo” là cái “mũ” đó nha
Trong đó từ “rạc” nghĩa là “xác xơ”
“Anh” là “eng”, “cô” là “O”
“Mun” trong bếp củi là “tro bếp” mà…

St.

Em sang bên kia sông

Lưu Quang Vũ

Em sang bên kia sông
những ngày mưa dằng dặc
hạt cốm xanh như ngọc
se dần trong lá sen.

Có muộn lắm không em
ngày qua không trở lại
bên kia vùng Thạch Bàn
trong mưa và trong khói
những ngả đường lầy lội
em đi em nghĩ gì?

Đã qua cả mùa hè
chờ em, em chẳng tới
hết mùa thu ngắn ngủi
bây giờ đông đã sang.

Trách chi lòng em quên
điều anh chưa nói được
một tình yêu vô vọng
có giúp gì em không?

Sớm nay em sang sông
guốc mòn trên vũng lội
em bao giờ cũng vội
mưa đầy trời thế kia.

Gió bấc đã tràn về
em có mang áo ấm
mưa loang tờ giấy mỏng
có nhắc gì đến anh?

Em đi xuống Bát Tràng
nhìn lò nung lửa thắm
lòng anh như men rạn
vỡ trên bình gốm nâu
đường trơn em hay vấp.

Đừng trách anh nhắc nhiều…
nếu thấy chẳng cần nhau
lời anh, đừng nhớ lại
nhưng nếu lòng thương yêu
đừng quên anh vẫn đợi.

Vừa mong vừa sợ hãi
gặp nhau, rồi ra sao?
lá sấu rụng rào rào
nước dâng đồng bãi ngập
cầu đông, chiều tối lạnh
biết em về kịp không?

Chuyện cái lò ấp

Dăm năm trước có đợt ngồi nhiều nên nảy sinh nhu cầu đi mài khu nhằm nâng cấp não. Lon ton phi sang lò ấp, nghĩ là nó gần nhà thì tiện đủ đường. Đến cổng đã thấy phong thủy có vấn đề. Méo gì mà lối vào dốc dựng ngược, cổng đặt ở góc méo xẹo, xây dựng đang ngổn ngang. Chừng đó đã quá giờ làm mà thấy lò vắng hoe. Rảnh quá nên đảo qua đảo lại mấy vòng, leo tầng này sang tầng nọ ngó nghiêng coi sao. Đến tầng chỉ huy thấy có hai phòng gần nhau có hai biển tên người phụ trách phòng họ trùng nhau. Sau mới biết là cha con.
 
Lượn một hồi mỏi cẳng lại nảy sinh vụ buồn tè. Vô khu giải quyết nỗi buồn này thấy chán quá. Nhà mới xây mà thiết bị, cửa kiếc chả ra làm sao, long sòng sọc, như hàng mã. Tự bảo: Mẹc, cái lò to nhất nước mà làm như kít. 
 
Sau này vòng vong tam quốc một hồi mình từ bỏ ý định nhập lò. Giờ mới thấy may. Ít ra không bị mấy đứa dở hơi xấu bụng mắng mỏ là ngốc với đột. 

Ngụ ngôn kinh tế học

Mấy năm trước trên FB lưu truyền một mẩu truyện (ngụ ngôn) kinh tế rất thú vị, gần đây lại được (một số kinh tế gia) nhắc lại. Phải nói ai nghĩ ra truyện này rất thông minh, đáng được đưa vào sách giáo khoa kinh tế bởi nó minh họa rất sinh động nhiều vấn đề kinh tế (vĩ mô). Từ từ tôi sẽ viết về những vấn đề đó, trong bài này tôi chỉ đề cập đến một khía cạnh của mẩu truyện mà rất tình cờ Paul Krugman đã viết mấy năm trước. Đầu tiên tôi xin tóm tắt lại truyện cho những ai chưa biết.
 
Ở một thị trấn nhỏ đang bị suy thoái ông chủ một khách sạn đang ngồi ngáp vì vắng khách. Một vị khách sang trọng bước vào nói ông ta muốn thuê một phòng xin nhất cho mấy ngày làm việc ở vùng này, để lại $100 tiền cọc rồi hẹn chiều quay lại lấy phòng. Khi vị khách vừa đi khỏi chủ khách sạn liền cầm tờ $100 chạy qua cửa hàng thịt bên cạnh trả cho một khoản ông ta nợ hàng thịt cả tháng nay.
 
Ông chủ khách sạn quay đi, chủ hàng thịt cầm đúng tờ $100 đó chạy sang hàng bánh mì trả nợ cho bà chủ bên đó. Đến lượt bà này cầm tờ tiền đi trả nợ cho một anh thợ nề tháng trước đã xây lò nướng bánh cho tiệm. Anh thợ nề có tiền ghé qua nhà một cô gái làng chơi trả tiền mấy lần “mây mưa” vừa rồi. Cô gái cầm tờ $100 chạy đến khách sạn trả nợ tiền phòng cho những lần thuê khách sạn tiếp khách tháng trước.
Đúng lúc đó vị doanh nhân quay lại khách sạn nói ông ta phải đổi kế hoạch không thuê phòng nữa và lấy lại $100 tiền cọc. Như vậy sau một vòng chạy loanh quanh tờ $100 được trả lại cho người chủ ban đầu nhưng trong thị trấn không còn ai nợ ai và các hoạt động kinh tế khởi sắc trở lại. Điều này tưởng chừng như nghịch lý nhưng thực ra như Krugman đã viết, vì nợ của người này là tài sản (asset) của người khác nên trong một nền kinh tế (đóng) “net debt” phải bằng không. Điều này cũng đúng cho thị trấn nhỏ bên trên, “net debt” của thị trấn bằng không trước và sau khi vị khách xuất hiện.
 
Vấn đề của thị trấn là họ không có liquidity để giải quyết nợ nần. Khi ông khách đến khách sạn đặt cọc vô hình chung nền kinh tế của thị trấn được bơm một lượng liquidity trong vòng vài tiếng để các chủ thể tranh thủ trang trải công nợ. Liquidity không phải là tài sản, mỗi chủ thể phải có sẵn asset (là tiền người khác nợ mình) còn liquidity chỉ có chức năng giúp họ chuyển đổi asset của mình để thanh toán liability với người khác.
 
Đến đây hi vọng bạn sẽ liên hệ mẩu truyện trên với vai trò của ngân hàng trung ương bơm liquidity (chứ không phải bơm tiền) vào nền kinh tế mỗi khi nó đình trệ. Đây là một topic lớn tôi sẽ quay lại vào dịp khác, ở đây tôi muốn chỉ ra một điểm mà tác giả của mẩu truyện đã cố tình giấu đi. Nếu thị trấn đó không có liquidity, làm thế nào để nền kinh tế hoạt động trước đó rồi rơi vào tình trạng ai cũng là con nợ của người khác dẫn đến mọi hoạt động đình trệ? Bạn hãy tưởng tượng phần đầu của truyện thế này.
 
Một cự phú của thị trấn nảy ra ý định kinh doanh khách sạn, ông ta sửa lại tòa nhà lớn của mình và bắt đầu đón khách. Khách sạn cho thuê phòng kèm bữa sáng nên chủ khách sạn chạy sang mua chịu $100 của hàng thịt bên cạnh, hứa sẽ trả sau khi có khách thuê phòng. Ông chủ hàng thịt tin bạn và cũng thấy kinh doanh khách sạn sẽ khả quan nên đồng ý bán chịu, thực chất là cho vay $100 bằng hiện vật.
 
Đến lượt ông ta cần bánh mì nên chạy sang tiệm bánh nói bà bán chịu cho tôi $100 bánh, khi nào ông chủ khách sạn trả tiền nợ thịt thì tôi sẽ thanh toán cho bà. Chuỗi mua chịu này tiếp diễn đến khi cô gái làng chơi đến khách sạn thuê phòng tiếp khách rồi xin nợ tiền phòng. Cho đến thời điểm đó các hoạt động kinh tế diễn ra bình thường dù thị trấn không có tiền mặt. Mấu chốt ở đây là mọi người tin nhau (trust) và tin vào business model của người mình cho mua chịu (cho vay).
 
Nếu chuỗi niềm tin này cứ tiếp tục thì hoạt động kinh tế vẫn diễn ra, ông chủ khách sạn sẽ vay tiếp $100 tiền thịt nữa (tổng nợ thành $200), cô gái làng chơi tiếp tục tiếp khách rồi nợ tiền phòng. GDP của nền kinh tế tiếp tục tăng trong khi total asset của nền kinh tế tăng song song với total liability (total debt), net debt luôn bằng không. Krugman và nhiều nhà kinh tế khác cho rằng debt không phải lúc nào cũng xấu, một nền kinh tế có quá ít debt, tương đương ít (financial) assets, là biểu hiện bị financial repression nên sẽ hoạt động không hiệu quả (tưởng tượng nếu ban đầu mọi người chỉ chấp nhận bán chịu $50 thì total debt sẽ giảm một nửa nhưng GDP cũng chỉ còn một nửa).
 
Nhưng đến khi total debt đạt đến một ngưỡng nào đó các chủ thể trong thị trấn sẽ lo ngại không cho người khác mua chịu nữa dẫn đến đình trệ kinh tế. Có thể thấy thời gian đầu (khi total debt còn nhỏ và người ta vẫn chấp nhận cho mua chịu) nền kinh tế hoạt động nhờ một dạng “local liquidity” là các khoản vay nợ (mua chịu) lẫn nhau. Trong một nền kinh tế hiện đại “local liquidity” thường là credit của các NHTM. Đến khi loại liquidity này cạn kiệt (vì lo ngại rủi ro) nền kinh tế cần một dạng liquidity có “uy tín” hơn giúp nó khởi động trở lại. Liquidity thực chất là vay nợ, hoặc lẫn nhau hoặc từ một nguồn thứ ba (central bank, ông khách trong truyện).
 
Các loại liquidity khác nhau, từ local đến national rồi global, về bản chất đều là một thứ “myth” (từ của Harari) mà mọi người cùng tin và chấp nhận. Trên thực tế các hoạt động kinh tế của thị trấn đó phải dựa vào những thứ có thực (khách sạn, lò bánh mỳ, “dịch vụ” của cô gái…) nhưng về lâu dài khi mức độ kinh tế lớn/phức tạp (GDP cao) cần phải có liqudity (đáng tin cậy) làm công cụ điều phối những hoạt động đó. Ở thời điểm sơ khai, “local myth” đảm đương được nhưng rồi cần phải có “national myth” mới giúp nền kinh tế chạy thông suốt.
 

Chuyện mùa Covid

– Ngoan nào. Ngậm lấy nó!
 
Người đàn ông nửa ngồi nửa nằm bên giường, khuôn mặt cương nghị. Mồ hôi chảy dọc theo xương quai xanh rồi rơi xuống ngực đầy quyến rũ. Anh nhỏ giọng dụ dỗ người kia, giọng nói trầm thấp hơi khàn, đồng thời đưa vật thô cứng đến gần miệng cô gái.
 
Cô gái trên giường toàn thân nóng bừng, hai mắt mê ly. Chiếc áo ngủ hơi trễ vai làm lộ ra cả một vùng trắng nõn.
 
Cô hơi kháng cự, khó chịu “ưm” một tiếng, cả người ngứa ngáy khó chịu.
 
Anh vuốt ve khuôn mặt xinh đẹp của cô yêu thương vô hạn.
 
– Ngoan. Để anh!
 
Dứt lời liền đẩy vật kia vào miệng cô.  Sau đó lại vuốt ve mái tóc. Thấy cô muốn ngọ nguậy liền đè hai cánh tay cô xuống nói:
 
– Nghe lời anh! Ngậm nó. Không được cắn!
 
Một lát sau anh rút vật đó ra, hơi trầm ngâm:
 
– 39 độ, sốt rồi. Để anh đưa đi bệnh viện!